Người có HIV, nguy cơ mắc bệnh lao cao gấp 10 lần người không có HIV.Khi có dấu hiệu: ho, khạc đờm trên hai tuần, sốt kéo dài, gầy sút cân, đau tức ngực cần đến ngay các cơ sở y tế xét nghiệm đờm để phát hiện bệnh lao.Hóa trị liệu ngắn ngày có giám sát trực tiếp – DOTS điều trị khỏi bệnh lao ở người có HIV.Thuốc chống lao được miễn phí.

Dịch HIV/AIDS đã làm tăng gánh nặng của bệnh lao, đặc biệt trong những cộng đồng có tỷ lệ nhiễm lao cao ở người lớn. Sự hình thành đồng thời hai căn bệnh trên là sự phối hợp chết người, bệnh này là điều kiện thuận lợi cho bệnh kia phát triển. Ước tính trên toàn thế giới có hơn 2 tỷ người đã bị nhiễm vi khuẩn lao và trong số 41 triệu người bị nhiễm HIV đang còn sống thì có 1/3 kèm nhiễm lao. Ước tính hằng năm nhiễm HIV sẽ làm tăng thêm 1,5 triệu bệnh nhân lao. Tỷ lệ tử vong do lao chiếm hơn 30% số tử vong ở bệnh nhân AIDS.

Khi HIV/AIDS đồng hành cùng bệnh lao
Khi HIV/AIDS đồng hành cùng bệnh lao

Nhiễm HIV là yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ mắc lao. Ở một số nước thuộc vùng tiểu lục địa sa mạc Sahara châu Phi, 30-70% bệnh nhân lao có HIV. Ở một số nước khác, tỷ lệ mắc lao mới đã tăng gấp đôi trong 10 năm trở lại đây và trở thành gánh nặng đối với hệ thống dịch vụ y tế chung, đặc biệt là các bệnh viện. Châu Á là nơi tập trung 70% số bệnh nhân lao trên toàn cầu, tình hình nhiễm HIV tăng nhanh ở nhiều nước như Thái Lan, Campuchia, Ấn Độ, Philippines và lan sang nước ta đã và đang là mối lo ngại cần được quan tâm.

Ở những người nhiễm HIV, các tế bào lympho CD4 bị suy giảm cả về số lượng và chức năng. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm làm giảm khả năng ngăn chặn sự phát triển và lan rộng của vi khuẩn lao. Những người có HIV mắc lao thường ở thể lao phổi và lao ngoài phổi. Những thể lao ngoài phổi phổ biến nhất là: lao hạch, tràn dịch màng phổi, lao màng ngoài tim, lao kê, lao màng não.

Cũng như ở người lớn, diễn biến của bệnh lao ở trẻ bị nhiễm HIV phụ thuộc vào giai đoạn nhiễm HIV. Giai đoạn đầu nhiễm HIV, khi hệ thống miễn dịch còn tốt, những dấu hiệu của bệnh lao ở những trẻ này giống như ở những trẻ không bị nhiễm HIV. Khi nhiễm HIV tiến triển và hệ miễn dịch bị suy giảm mạnh, sự lan tràn của bệnh lao trở nên phổ biến hơn. Lao màng não, lao kê và cả lao hạch bạch huyết lan tỏa xuất hiện.

Mối liên quan giữa lao và HIV/AIDS được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng. Bởi vậy bệnh nhân lao cần hiểu rằng họ là đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm HIV. Điều quan trọng là phải tư vấn cho bệnh nhân lao để họ tình nguyện đi xét nghiệm phát hiện HIV. Đa số bệnh nhân chỉ được phát hiện HIV sau khi bị bệnh lao.

Ở những bệnh nhân lao có HIV, trước hết cần được ưu tiên điều trị lao, đặc biệt đối với các trường hợp lao phổi. Tuy nhiên, có thể đồng thời cho bệnh nhân dùng thuốc chống lao và thuốc kháng virut nếu quản lý chặt chẽ được bệnh nhân. Trong những trường hợp này cần đánh giá cẩn thận tình trạng bệnh nhân trước khi cho dùng cả thuốc kháng virut.

Thông thường đây là những trường hợp nặng, bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao trong thời gian điều trị lao nên có thể cho bệnh nhân điều trị thuốc kháng virut ARV sớm đồng thời với thuốc điều trị lao. Đối với bệnh nhân lao phổi thể nhẹ, chưa đe dọa tính mạng, có thể cho người bệnh dùng thuốc kháng virut sau khi hoàn thành giai đoạn điều trị tấn công lao nhằm tránh tương tác thuốc.

Tỷ lệ tử vong trong quá trình điều trị lao hai tháng đầu rất cao, đặc biệt ở những bệnh nhân có biểu hiện HIV tiến triển. Do bệnh nhân phải dùng số lượng lớn vừa thuốc chống lao vừa thuốc kháng virut nên tương tác thuốc, độc tính của thuốc và hội chứng phục hồi miễn dịch có thể xuất hiện làm bệnh nhân dễ bỏ thuốc. Đây là điều các thầy thuốc cần lưu ý để chọn thời điểm thích hợp cho việc dùng phối hợp thuốc điều trị lao với thuốc kháng virut.

(Nguồn: Sức khoẻ đời sống)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *