HIV lây truyền từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung lúc chuyển dạ và sau đẻ, trong khi cho con bú. Cơ chế lây truyền rất phức tạp, có thể do virut HIV tự do phối hợp với các tế bào khác hay có nhiễm khuẩn bánh rau.
Theo ước tính hiện nay, mỗi ngày có thêm 1.600 trẻ bị lây nhiễm HIV trực tiếp từ mẹ sang con. Có khoảng 15-35% trẻ được sinh ra từ những bà mẹ bị nhiễm HIV sẽ bị lây nhiễm nếu không có biện pháp can thiệp cần thiết. Nghiên cứu cho thấy việc lây truyền ít xảy ra khi mới mang thai, do đó thời gian trọng điểm cần chú ý phòng ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con chính là thời điểm chuyển dạ và sau khi sinh.
Đường lây truyền từ mẹ sang con
HIV lây truyền từ mẹ sang con có thể xảy ra trong tử cung lúc chuyển dạ và sau đẻ, trong khi cho con bú. Cơ chế lây truyền rất phức tạp, có thể do virut HIV tự do phối hợp với các tế bào khác hay có nhiễm khuẩn bánh rau.

Giai đoạn thai nằm trong tử cung
Có thể xảy ra trong suốt thời kỳ thai nghén qua bánh rau. Người ta tìm thấy HIV trong gan, thận, não của bào thai 13 tuần tuổi. Sự lây truyền này có thể xảy ra sớm khi thai được 8 tuần và kéo dài trong suốt thời kỳ mang thai. Tỷ lệ lây truyền cao khi tuổi thai trên 18 tuần. Vai trò của bánh rau trong lây truyền HIV phức tạp do cấu trúc và đặc điểm của bánh rau thay đổi theo tiến triển của thai nghén.
Trong thời gian cuối của thai nghén, các tế bào của mẹ di chuyển vào tuần hoàn thai không phải là hiếm xảy ra. Theo cơ chế này, virut tự do hay nằm trong tế bào di chuyển qua bánh rau vào thai nhi. Tỷ lệ lây truyền qua bánh rau khi thai nằm trong tử cung tăng lên nếu:
– Tuổi của mẹ tăng.
– Bị phơi nhiễm HIV trong khi có thai, lúc này nồng độ HIV trong máu rất cao.
– Người mẹ nhiễm HIV/AIDS ở giai đoạn muộn, đã có triệu chứng lâm sàng về AIDS. Tỷ lệ lây nhiễm trong khi mang thai là 5% – 7%.
Giai đoạn thai đi qua đường sinh dục người mẹ khi chuyển dạ đẻ
Sự lây truyền HIV thường xảy ra muộn quanh thời kỳ chuyển dạ, đứa trẻ bị nhiễm vì tiếp xúc với chất dịch âm đạo của người mẹ, nhất là khi ối đã vỡ, cơn co tử cung mạnh sẽ đẩy máu mẹ mang theo HIV vào tuần hoàn rau thai, hoặc đứa trẻ tiếp xúc với dịch âm đạo chứa HIV là nguyên nhân làm trẻ bị nhiễm HIV, nhất là những trường hợp đẻ khó, chuyển dạ kéo dài. Đứa trẻ có thể nuốt một số virut HIV trong máu mẹ làm nguy cơ lây nhiễm càng tăng, vì thế người ta chủ trương làm sạch đường âm đạo trong chuyển dạ và mổ lấy thai khi bắt đầu chuyển dạ, để có thể giảm đi 50% khả năng lây nhiễm.
Giai đoạn cho con bú
Nguy cơ bị lây truyền HIV do sữa mẹ lớn hơn nguy cơ lây trong khi có thai và sinh đẻ. Lây truyền HIV qua sữa mẹ có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian cho con bú. Do đó người ta khuyên nếu có điều kiện thì không nên cho trẻ bú sữa mẹ. Nguy cơ này còn liên quan đến thời gian cho con bú dài hay ngắn. Nếu cho con bú càng dài thì nguy cơ lây truyền càng lớn. (Xem bảng cuối bài)
Ảnh hưởng của HIV đến thai nghén
Nếu loại trừ các yếu tố kinh tế, xã hội, nghiện ma túy thì nhiễm HIV không ảnh hưởng đến những tai biến cho thai nghén, trừ triệu chứng giảm tiểu cầu có thể gây nguy cơ chảy máu sau đẻ và cho sơ sinh.
Sự truyền HIV từ mẹ sang bào thai tùy thuộc vào giai đoạn bệnh của mẹ: kháng nguyên p24 dương tính trong khi có thai, tỷ lệ lympho bào CD4 thấp và trẻ bú mẹ sau đẻ. HIV được truyền qua rau, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ thai nghén hay khi chuyển dạ.
Tiên lượng của trẻ nhiễm HIV xấu, nếu hạch xuất hiện trong năm đầu. Hai biến chứng hay gặp là nhiễm khuẩn và tổn thương ở não. Khoảng 2% trẻ phát triển bệnh trong năm đầu bị suy giảm miễn dịch nặng và chết từ 3 tháng đến 5 năm, những trẻ còn lại tiến triển chậm hơn, như ở người lớn. Do đó hiện nay có xu hướng điều trị cho trẻ nhiễm HIV sớm hơn để bệnh tiến triển chậm hơn.
Ảnh hưởng của thai nghén đến HIV
Hiện chưa rõ ảnh hưởng miễn dịch của thời kỳ thai nghén có bị HIV làm thay đổi hoặc diễn biến của nhiễm HIV có bị ảnh hưởng bởi tình trạng có thai hay không. Người ta chỉ thấy ở cuối thời kỳ mang thai, số lượng lympho bào CD4 tăng lên cùng với tăng bạch cầu đa nhân.
Diễn biến lâm sàng của người nhiễm HIV, có tác giả cho rằng nặng lên, có người nói là không. Sự suy sụp nặng đưa đến tử vong chỉ gặp ở người bệnh đã có triệu chứng lâm sàng khi có thai và sự suy giảm miễn dịch đã nặng sẵn. Do đó người ta đề nghị phá thai khi có dấu hiệu AIDS với kháng nguyên p24 dương tính trong máu và tỷ lệ lympho bào CD4 dưới 200/ml.
Như vậy, để điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, phải căn cứ vào thời gian dễ lây nhiễm nhất, phải loại các yếu tố nguy cơ, giảm thiểu sự xâm nhập virut từ mẹ sang con, phải khử khuẩn và làm sạch âm đạo khi đẻ, lựa chọn cách nuôi trẻ, tránh việc cho con bú và nâng cao thể trạng và sức đề kháng của người mẹ.
(Nguồn: SKĐS)
